Để chuyến đi tour du lịch Mỹ của bạn được tốt hơn thì bài viết nước Mỹ và lịch sử phát triển sẽ giới thiệu cho bạn , giúp bạn có thêm nhiều thông tin bổ ích về đất nước bạn sắp tới này.

>>Xem thêm: Khái quát về Nước Mỹ

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ thời lập quốc

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển: Những năm 1500 là kỷ nguyên thám hiểm của Tây Ban Nha ở châu Mỹ. Juan Ponce de Leon đặt chân lên mảnh đất mà ngày nay là Frorida vào năm 1513. Hernando De Soto đến Florida năm 1539 và tiếp tục khám phá đến tận sông Mississippi. Năm 1540, Francisco Vazquez de Coronado từ Mexico bắt đầu cuộc hành trình về phía Bắc, khu vực mà Tây Ban Nha đã chinh phục vào năm 1522 trong quá trình tìm kiếm Bảy Thành phố huyền bí của xứ Cibola. Ông không bao giờ tìm được chúng, nhưng chính những chuyến thám hiểm đó đã đưa ông đến tận Grand Canyon ở Arizona và tiến sâu vào vùng Đồng bằng lớn.

>>Xem thêm: Phong tục – Tập quán quy chuẩn của người Mỹ

Khi người Tây Ban Nha tiến lên từ phía Nam, thì phần phía Bắc của nước Mỹ ngày nay được khám phá một cách chậm chạp qua hành trình của những nhà thám hiểm châu Âu khác. Trong số này có Giovanni da Verrazano, Jacques Cartier, và Amerigo Vespucci mà sau này lục địa Mỹ được đặt theo tên họ.
Khu định cư lâu dài đầu tiên của người châu Âu ở khu vực sau này trở thành nước Mỹ được người Tây Ban Nha xây dựng vào giữa những năm 1500 tại St. Augustine ở Florida. Tuy nhiên, khu định cư này không đóng vai trò trong việc hình thành một quốc gia mới. Câu chuyện về sự hình thành quốc gia mới chỉ bắt đầu với những khu định cư được xây dựng về phía Bắc dọc bờ biển Đại Tây Dương ở Virginia, Massachusetts, New York, và 10 vùng khác do làn sóng người di cư từ châu Âu đến chiếm làm thuộc địa.

Thời kỳ thuộc địa

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển: Trong nhiều thập kỉ, tranh chấp liên tục giữa các thống đốc và hội đồng khiến dân thuộc địa ý thức được những khác biệt ngày càng gia tăng về lợi ích giữa người Anh và người Mỹ. Những nguyên tắc và tiền lệ hình thành từ những tranh chấp này đã trở thành hiến pháp bất thành văn của các thuộc địa.
Lúc đầu, vấn đề tự trị trong khuôn khổ Khối Thịnh vượng chung của Anh là vấn đề trọng tâm, sau này mới là kêu gọi đấu tranh giành độc lập.

Chặng đường giành độc lập

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển: Người dân các thuộc địa ngày càng phẫn nộ và tức giận trước việc Anh vi phạm các quyền của họ. Tuy nhiên, họ chưa thống nhất được các biện pháp cần phải làm gì để đối phó. Những người trung thành vẫn muốn phục tùng đức vua. Những người ôn hòa thiên về thỏa hiệp nhằm xây dựng một mối quan hệ có thể chấp nhận được với chính quyền Anh. Phái cách mạng thì lại muốn độc lập hoàn toàn. Nhóm này bắt đầu tích trữ vũ khí và huy động lực lượng, đợi ngày đứng lên chiến đầu giành độc lập.

Thời kỳ cách mạng

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển: Đại hội Lục địa lần hai bầu ra một ủy ban, đứng đầu là Thomas Jefferson của Virginia, nhằm soạn thảo một văn kiện nêu rõ những bất bình của các thuộc địa đối với Đức vua và giải thích lý do ly khai. Tuyên ngôn Độc lập được thông qua ngày 4/7/1776. Từ đó, ngày 4/7 trở thành ngày Quốc khánh của Hoa Kỳ.
Tuyên ngôn Độc lập không chỉ khai sinh ra một quốc gia mới mà còn đưa ra triết lý về quyền tự do của con người và sau này trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển trên toàn thế giới. Bản Tuyên ngôn Độc lập dựa trên tư tưởng chính trị của Anh và Pháp, đăc biệt là tư tưởng của John Locke trong tác phẩm Chuyên luận thứ hai về Chính phủ, khẳng định niềm tin rằng các quyền chính trị là những quyền cơ bản của con người và có tính phổ cập toàn cầu.
Tuyên bố độc lập không mang lại tự do cho người Mỹ. Quân đội Anh truy đuổi quân đội lục địa ở New York, từ Long Island đến Thành phố New York. Quân đội Anh đã đánh bại quân Mỹ ở Brandywine, Pennsylvania, và chiếm Philadelphia, buộc Đại hội Lục địa phải tháo chạy. Quân Mỹ chiến thắng ở Saratoga, New York, và Trenton và Princeton ở New Jersey. Tuy nhiên, George Washington vẫn liên tục cố gắng bổ sung lực lượng và nhu yếu phẩm cần thiết.
Sự hỗ trợ có tính quyết định đến vào năm 1778 khi nước Pháp công nhận Hoa Kỳ và ký Hiệp định Phòng thủ Song phương. Tuy nhiên, sự ủng hộ từ chính phủ Pháp chỉ vì lý do địa chính trị, chứ không phải hệ tư tưởng. Pháp muốn làm suy yếu nước Anh, kẻ thù lâu đời của nước Pháp.
Cuộc chiến đấu nổ ra ở Lexington, Massachusetts, kéo dài 8 năm trên phần lớn lục địa. Các trận chiến diễn ra từ Montreal, Canada, ở miền Bắc đến Savannah, Georgia ở miền Nam. Quân đội hùng hậu của Anh đã đầu hàng tại Yorktown, Virginia, năm 1781, nhưng giao tranh vẫn kéo dài hai năm nữa mà không phân thắng bại. Cuối cùng một hiệp định hòa bình đã được ký kết tại Paris vào ngày 15/4/1783.
Cuộc Cách mạng đã có ảnh hưởng to lớn không chỉ ở Bắc Mỹ. Nó đã thu hút sự chú ý của các nhà lý luận chính trị châu Âu và củng cố quan niệm về các quyền tự nhiên ở các nước phương Tây. Cuộc Cách mạng này cũng thu hút nhiều nhân vật nổi tiếng như Thaddeus Kosciusko, Friedrich von Steuben, và Marquis de Lafayette, những người tham gia cuộc Cách mạng và hy vọng truyền bá tư tưởng tự do đến nước họ.
Hiệp ước Paris công nhận nền độc lập, tự do, và chủ quyền của 13 thuộc địa cũ, nay trở thành các bang. Nhiệm vụ liên kết các bang này thành một quốc gia vẫn còn ở phía trước.

Hình thành chính phủ quốc gia

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển

Nước Mỹ và lịch sử phát triển: Ngay cả khi Hiến pháp đã được phê chuẩn thì nhiều người Mỹ vẫn cảm thấy nó thiếu một thành tố cơ bản. Họ nói, Hiến pháp không liệt kê các quyền của cá nhân. Khi Quốc hội đầu tiên nhóm họp tại Thành phố New York tháng 9/1789, các nhà làm luật đã nhất trí bổ sung thêm những điều khoản này. Phải mất hai năm nữa 10 Điều sửa đổi này – được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền – mới trở thành một phần trong Hiến pháp.
Sửa đổi đầu tiên trong số 10 Điều sửa đổi này đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và tự do tôn giáo; quyền được biểu tình, tụ họp hòa bình, và quyền yêu cầu thay đổi. Điều sửa đổi thứ tư cấm việc tìm kiếm và bắt bớ không có lý do. Điều sửa đổi thứ năm quy định quy trình tố tụng đúng luật đối với tất cả các loại hình tội phạm. Điều sửa đổi thứ sáu bảo đảm quyền được xét xử công bằng và nhanh chóng. Và Điều sửa đổi thứ tám cấm sự trừng phạt tàn nhẫn và bất bình thường.
Kể từ khi Tuyên ngôn Nhân quyền được đưa ra hơn 200 năm trước, chỉ có thêm 17 Điều sửa đổi được bổ sung vào Hiến pháp.

Hãy nhanh tay đăng kí cho mình cùng gia đình một chuyến đi tour du lịch Mỹ tại đây.

Comments